Đề án số 09: Sản xuất vụ xuân năm 2011
22/11/2010 | 4:19 PM
UỶ BAN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ
Số: 09 /ĐA-UBND
| CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Hưng Hà, ngày 15 tháng 11 năm 2010
ĐỀ ÁN
SẢN XUẤT VỤ XUÂN NĂM 2011
PHẦN THỨ NHẤT
KẾT QUẢ SẢN XUẤT VỤ XUÂN NĂM 2010
I. KẾT QUẢ SẢN XUẤT LÚA VỤ XUÂN NĂM 2010
Vụ lúa xuân 2010 toàn huyện gieo cấy được: 11.170,09 ha; năng suất đạt 71,86 tạ/ha, sản lượng thóc đạt: 80.268 tấn. So với vụ xuân năm 2009, năng suất tăng 0,06tạ/ha, sản lượng tăng 61 tấn.
Cơ cấu giống lúa gồm:
- Trà lúa xuân ngắn ngày 9.794,06 ha, chiếm 87,68%
Trong đó:
+ Nhóm giống lúa có năng suất cao chủ yếu là giống TBR1 và giống BC15, diện tích: 5032,51 ha chiếm 45,1% so với tổng diện tích cấy lúa xuân, năng suất đạt 74,71 tạ/ha, cao hơn năng suất bình quân chung của huyện: 2,85 tạ/ha. Đây là 2 giống chủ lực trong nhóm lúa thuần có năng suất cao hiện nay.
+ Diện tích các giống lúa có chất lượng gạo ngon làm hàng hoá: 5.712,22 ha chiếm 51% so với tổng diện tích cấy lúa xuân tăng 8% so với vụ xuân 2009.
- Trà lúa xuân dài ngày: 1.376,03ha, chiếm 12,32% so với tổng diện tích cấy lúa xuân, năng suất bình quân đạt: 70,75 tạ/ha, thấp hơn năng suất chung của huyện 1,11 tạ/ha, thấp hơn giống lúa BC15: 4,72 tạ/ha.
- Diện tích lúa áp dụng phương pháp gieo vãi, gieo thẳng được mở rộng, đạt 1.400 ha, chiếm 12,5% so với tổng diện tích cấy lúa xuân, một số địa phương áp dụng phương pháp gieo vãi, gieo thẳng đạt từ 50 - 70% gồm: Thị trấn Hưng Nhân, Điệp Nông, Cộng Hoà, Canh Tân, Tiến Đức ... Năng suất đều cao hơn, chi phí thấp hơn từ 2 - 2,2 triệu đồng/ha so với phương pháp gieo mạ cấy.
Vụ lúa xuân 2010 là vụ thắng lợi toàn diện về diện tích, năng suất, sản lượng, giá trị, là vụ thứ 6 năng suất của huyện nhà đạt trên 70tạ/ha (từ năm 2004 trở lại đây), là huyện có năng suất cao nhất tỉnh.
1. Những nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến năng suất lúa xuân 2010
a, Nguyên nhân khách quan:
Vụ lúa xuân 2010 là vụ xuân ấm ở giai đoạn đầu vụ (giai đoạn mạ) từ 15/12 – 20/1, nhiệt độ trung bình ngày cao hơn TBNN là 1,50C. Nhiệt độ cuối tháng 1 đầu tháng 2 trên 250C, cao hơn trung bình nhiều năm 40C, là năm có nền nhiệt cao nhất, làm cho mạ sinh trưởng, phát triển nhanh, diện tích mạ dài ngày và mạ ngắn ngày gieo trước lịch bị già.
- Từ ngày 12/02 đến 19/02 (Từ 29/chạp - 06/Giêng) trời có rét đậm làm cho toàn bộ diện tích lúa xuân dài ngày, lúa xuân ngắn ngày và những diện tích gieo thẳng, gieo vãi ngừng sinh trưởng, phát triển chậm, thời gian sinh trưởng của lúa kéo dài được khoảng 6 - 8 ngày.
- Ở giai đoạn lúa trỗ bông, phơi màu, làm hạt có mưa rào đều vào buổi chiều và đêm, biên độ nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm lớn, đây là điều kiện rất thuận lợi để các trà lúa đạt năng suất cao.
- Sâu bệnh:
Vụ xuân 2010 là vụ xuân ấm, sâu bệnh phát sinh gây hại hết sức phức tạp, đã được khuyến cáo ngay từ khi triển khai đề án sản xuất.
+ Đến hết ngày 22/3: Toàn huyện có 29/35 xã, thị trấn đã phát hiện trên lúa có triệu chứng của bệnh lùn sọc đen với diện tích 2.500 - 2.600 ha, còn 6 xã chưa phát hiện có triệu chứng của bệnh lùn sọc đen gồm: Kim Trung, Cộng Hoà, Liên Hiệp, Tân Hoà, Thái Phương, Tân Lễ.
+ Các đối tượng sâu bệnh khác như: Bệnh đạo ôn, sâu đục thân 2 chấm , sâu cuốn lá phát sinh gây hại, mật độ cao trên toàn bộ diện tích lúa xuân.
b, Nhân tố chủ quan:
UBND huyện xây dựng đề án sản xuất với mục tiêu phấn đấu: Cấy 100% diện tích bằng các giống lúa xuân ngắn ngày và mở rộng diện tích cấy giống lúa có năng suất, chất lượng ngon làm hàng hóa, trong đó tập trung chủ yếu là 2 giống TBR1, BC15.
- Đã thành lập Ban chỉ đạo từ huyện đến các xã, thị trấn.
- Lấy kết quả thực hiện chuyển đổi cơ cấu giống lúa xuân là thước đo đánh giá năng lực, trình độ tổ chức của cấp Uỷ, Đảng, chính quyền và kết quả đánh giá thi đua khen thưởng cuối năm với các địa phương.
- Đã chủ động ứng hỗ trợ thuốc phun trừ rầy lưng trắng để phòng trừ bệnh lùn sọc đen ở những ổ mới phát sinh. Cùng với hỗ trợ của tỉnh, huyện đã trích quỹ hỗ trợ 566 triệu đồng mua thuốc trừ rầy phun cho toàn bộ diện tích lúa xuân, chỉ đạo nhổ vùi triệt để những cây lúa có biểu hiện triệu chứng của bệnh, tỉa những cây khoẻ để dặm và thực hiện tốt các biện pháp chăm sóc như bón thêm lân, Kali.
- Cùng với việc thực hiện có hiệu quả chiến dịch phòng trừ bệnh lùn sọc đen, đã làm tốt công tác điều tra, dự tính, dự báo, phát động các đợt phun trừ sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân, rầy nâu, đặc biệt là bệnh đạo ôn gây hại cổ bông cuối tháng 4 đầu tháng 5 đạt kết quả cao hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra.
Tóm lại: Vụ lúa xuân 2010 là vụ thời tiết diễn biến hết sức phức tạp, bệnh lùn sọc đen phát sinh gây hại nặng trên diện rộng, sâu cuốn lá nhỏ, vũ hoá kéo dài, nhiều lứa gối nhau liên tục, mật độ cao; sâu đục thân, rầy nâu, đặc biệt là bệnh đạo ôn gây hại cổ bông cuối tháng 4 đầu tháng 5. Vụ lúa xuân năm 2010 giành giật thắng lợi từ điều kiện bất thuận của thời tiết, sâu bệnh hại, là vụ được mùa có năng suất cao nhất tỉnh.
+ Những mặt tích cực:
Huyện ủy, UBND huyện đã chủ động, tập trung cao sự lãnh đạo, chỉ đạo bình tĩnh, sâu sát, quyết liệt, cụ thể, sát thực tế, giao nhiệm vụ cho các đồng chí Huyện uỷ viên không nghỉ ngày lễ, thứ 7 và chủ nhật trong thời gian thực hiện chiến dịch phòng trừ bệnh lùn sọc đen trong suốt tháng 3, tháng 4; có nhiều công văn, công điện họp chỉ đạo bổ khuyết kịp thời với các đồng chí cán bộ chủ chốt của huyện, xã, thị trấn và có những giải pháp khắc phục khó khăn trong sản xuất lúa, màu vụ xuân 2010, cụ thể như sau:
- Có bộ giống lúa xuân ngắn ngày phù hợp, thực hiện tốt công nghệ gieo mạ non có che phủ nilon. Nông dân tin tưởng và chấp hành tốt sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền từ huyện đến cơ sở.
- Là vụ gần 100% diện tích đất được ải, kể cả diện tích trồng cây vụ đông. Đã khắc phục được hạn chế trong khâu cày lật đất của những năm trước còn từ 20 - 25% diện tích đất không cày lật đến thời vụ đổ nước lồng là cấy (gọi là để ải âm).
- Tỉnh, huyện có cơ chế chính sách hỗ trợ thuốc trừ cỏ cho những diện tích lúa gieo thẳng, gieo vãi. Cụ thể: Tỉnh hỗ trợ 80.000 đồng/ha, huyện hỗ trợ 50.000 đồng/ha; hỗ trợ thuốc trừ rầy phòng trừ bệnh lùn sọc đen.
- UBND huyện có chỉ thị, cơ chế chính sách tạo điều kiện cho cơ sở thực hiện tốt công tác thuỷ lợi đông xuân, đặc biệt là thủy lợi mặt ruộng làm quyết liệt, không ồn ào, hiệu quả cao. Tập trung cao sự lãnh đạo, chỉ đạo, công tác phòng trừ sâu bệnh, phòng Nông nghiệp & PTNT, trạm BVTV của huyện làm tốt công tác dự tính dự báo, tham mưu họp phát động các chiến dịch phun trừ sâu bệnh kịp thời, các xã, thị trấn thực hiện nghiêm túc, nông dân tin tưởng tích cực thực hiện, đã huy động được cả hệ thống chính trị vào cuộc. thiệt hại do sâu bệnh gây ra là rất thấp.
+ Những mặt hạn chế:
- Diện tích lúa xuân dài ngày vẫn gieo cấy chiếm tỷ lệ 12,32% trong đó một số địa phương còn chiếm từ 30 - 40%, có những thôn còn chiếm 60 - 70%.
- Về thực hiện các biện pháp kỹ thuật gieo cấy: Một số địa phương, hộ nông dân còn gieo mạ sớm trước lịch, mạ bị già, lúa gieo thẳng gieo vãi bị chết.
- Phân bón chưa hợp lý, không cân đối N-P-K, chưa thực hiện bón lót sâu, bón thúc sớm, còn bón nhiều đạm, bón muộn, bón lai nhai.
- Thực hiện phun thuốc phòng trừ sâu bệnh chưa đúng kỹ thuật, đặc biệt ở những hộ phải đi thuê người phun thuốc.
- Việc quản lý, cung ứng thuốc bảo vệ thực vật còn nhiều hạn chế đã ảnh hưởng đến kết quả phòng trừ sâu bệnh.
2. Sản xuất vụ hè - vụ hè thu:
- Sản xuất vụ hè, vụ hè thu đã được xây dựng, triển khai ngay từ sản xuất vụ xuân. Các xã, thị trấn, HTX Dịch vụ nông nghiệp đã nghiêm túc chỉ đạo xây dựng kế hoạch sản xuất vụ hè, đặc biệt là vụ hè xen giữa 2 vụ lúa.
- Kết quả cây màu hè 1.280 ha, trong đó cây màu hè xen giữa hai vụ lúa 480 ha, tập trung ở các xã Tây Đô, Hòa Tiến, Tân Tiến, Đoan Hùng ..., giá trị thu bình quân 2triệu đồng/sào, có một số hộ ở Tây Đô, Hòa Tiến trồng từ 7 - 8 sào, tổng thu 15 - 16 triệu đồng.
Cây đậu tương hè thu (chủ yếu làm giống cho vụ đông): Toàn huyện gieo trồng được 670 ha, trong đó đậu tương giống gốc 500 ha, tập trung chủ yếu ở: Hồng Minh: 140 ha, Tân Lễ: 100 ha, Điệp Nông: 120 ha, Cộng Hòa: 70 ha, Canh Tân: 40ha.
II. KẾT QUẢ SẢN XUẤT CÂY MÀU, CÂY CÔNG NGHIỆP VỤ XUÂN NĂM 2010
Vụ xuân năm 2010 toàn huyện gieo trồng được: 2.210 ha.
1. Cây thực phẩm: 794,2 ha gồm:
- Dưa quả các loại: 50,66 ha;
- Đậu đỗ các loại: 74,4 ha;
- Rau các loại: 679,52 ha.
2. Cây công nghiệp: 491,93 ha gồm:
- Cây mía: 52,65 ha;
- Cây đay: 102,09 ha;
- Cây lạc: 101,37 ha;
- Cây đậu tương: 225,43 ha;
- Cây vừng: 10,39 ha.
3. Cây lương thực: 774,66 ha.
4. Cây khác: 191,21ha.
Nhìn chung các loại cây màu, cây công nghiệp, cây lương thực ở vụ xuân 2010 sinh trưởng phát triển tốt.
PHẦN THỨ HAI
CHỦ TRƯƠNG, BIỆN PHÁP SẢN XUẤT VỤ XUÂN, VỤ HÈ NĂM 2011
I. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA SẢN XUẤT VỤ XUÂN NĂM 2011
1. Những thuận lợi:
- Đảng, Nhà nước đã có Nghị quyết chuyên đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, triển khai xây dựng nông thôn mới trên phạm vi cả nước.
- Tỉnh, huyện có chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp thông qua cơ chế hỗ trợ mua máy thực hiện cơ giới hóa nông nghiệp, giải quyết thiếu lao động lúc thời vụ và giảm chi phí sản xuất. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, các chính sách kinh tế đầu tư cho phát triển kinh tế nông nghiệp được thực hiện tốt hơn.
- Kết quả sản xuất nông nghiệp những năm qua và năm 2010 ở huyện nhà đã có buớc chuyển biến trong công tác quy hoạch vùng sản xuất, đầu tư thâm canh. Đội ngũ cán bộ từ huyện đến xã, thị trấn có thêm nhiều kinh nghiệm, chỉ đạo và xử lý tình huống thời tiết bất thuận, sâu bệnh bùng phát thành dịch.
- Nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, trình độ canh tác cao, một số giống lúa có năng suất, chất lượng gạo ngon phục vụ cho sản xuất, cung ứng các loại vật tư đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn, các HTX dịch vụ nông nghiệp vươn lên làm tốt các khâu dịch vụ, chủ động phục vụ tốt hơn cho sản xuất. Hệ thống kênh mương đang được cứng hoá, việc tu sửa nạo vét, nâng cấp, ngày càng cung cấp nước tốt hơn cho các loại cây trồng cả vụ.
2. Khó khăn:
- Thời tiết vụ xuân những năm gần đây diễn biến bất thường, nhất là bối cảnh khí hậu toàn cầu đang biến đổi.
- Nhận thức của cán bộ, nông dân ở một số cơ sở về chuyển đổi cơ cấu giống lúa còn chậm, bảo thủ, tư tưởng trông chờ bao cấp còn nặng nề. Hiệu lực lãnh đạo, điều hành, thực hiện thời vụ gieo cấy còn lỏng lẻo, không nghiêm túc, ngại va chạm.
- Việc quy vùng mở rộng diện tích cấy những giống lúa có chất lượng gạo ngon làm hàng hoá còn chậm, quy hoạch khép kín bờ vùng để chủ động điều tiết nước ngay từ đầu vụ gieo cấy, chống úng đã nhiều năm thực hiện nhưng chưa tốt.
- Lao động ở nông thôn thiếu, do lực lượng lao động trẻ khỏe đi làm ăn xa, giá thuê công lao động, giá các loại vật tư phân bón, xăng dầu, thuốc bảo vệ thực vật liên tục tăng cao, nông dân thiếu phấn khởi đầu tư thâm canh.
- Một số hệ thống sông trục đã được nạo vét song chưa đáp ứng được nhu cầu thâm canh cao trong sản xuất, nhiều năm nay đầu vụ thường mực nước thấp gây khó khăn cho đổ ải, thau chua, rửa mặn.
- Ruộng đất nhỏ lẻ manh mún gây khó khăn cho quá trình chỉ đạo ở cơ sở và đưa cơ giới hóa vào sản xuất.
- Bệnh mới: Bệnh lùn sọc đen đã phát sinh và có khả năng gây hại cho vụ lúa xuân 2011 và các vụ tiếp theo.
II - CHỦ TRƯƠNG SẢN XUẤT VỤ XUÂN NĂM 2011.
- Chỉ đạo thực hiện tốt việc quy vùng sản xuất, lịch thời vụ, các biện pháp kỹ thuật canh tác tổng hợp, mở rộng sản xuất vụ hè xen giữa 2 vụ lúa, thực hiện công thức 4 vụ trên đất 2 vụ lúa/năm. Coi trọng giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích, để có nhiều sản phẩm hàng hoá tập trung.
+ Phải tạo bước chuyển biến về nhận thức, trước hết là các cấp lãnh đạo có thái độ kiên quyết trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, sâu sát, cụ thể, phân rõ trách nhiệm từng cấp, từng ngành, nâng cao hiệu lực lãnh đạo, chỉ đạo ở cơ sở, tạo ra khí thế quyết tâm trong toàn Đảng, các Đoàn thể xã hội và trong mọi tầng lớp nhân dân trong huyện, chống tư tưởng chỉ đạo chung chung, trì trệ, cầu toàn, ngại va chạm.
+ Đưa nhanh cơ giới hóa vào sản xuất, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, mở rộng thực hiện phương thức gieo vãi, gieo thẳng bằng công cụ sạ hàng theo phương pháp hàng rộng hàng hẹp nhằm giải quyết tình trạng thiếu lao động, đảm bảo thời vụ, giảm chi phí, thay đổi nề nếp, cách làm ở nông thôn.
+ Tiếp tục chỉ đạo các địa phương ký hợp đồng với Công ty CP Giống cây trồng Thái Bình chuyển một số diện tích sang sản xuất các giống lúa, màu.
+ Phấn đấu gieo cấy 100% diện tích bằng các giống lúa xuân ngắn ngày, để chủ động thâm canh, giành năng suất cao, ổn định trong mọi dạng hình thời tiết. Quy vùng mở rộng diện tích cấy giống lúa chất lượng gạo ngon làm hàng hóa, các giống lúa thuần cao sản để ổn định năng suất, sản lượng nhằm đảm bảo an ninh lương thực.
+ Xây dựng kế hoạch sản xuất vụ xuân phải gắn với kế hoạch sản xuất vụ mùa, vụ đông, vụ hè xen giữa 2 vụ lúa. Đẩy mạnh việc tiếp thu, ứng dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất.
+ Phải thực hiện nghiêm lịch thời vụ, cơ cấu giống lúa, kỹ thuật thâm canh, đưa nhanh các giống có giá trị kinh tế cao vào sản xuất, để đạt hiệu quả kinh tế và giá trị cao nhất trên đơn vị diện tích.
+ Những diện tích gieo mạ mùa sớm cần chủ động chuyển sang trồng cây màu (không cấy lúa xuân).
III. MỤC TIÊU PHẤN ĐẤU:
1. Lúa vụ xuân: Diện tích cấy ổn định 10.800 ha, năng suất phấn đấu 71tạ/ha trở lên, sản lượng 76.680 tấn trở lên, giá trị sản xuất bình quân 35 triệu đồng trở lên/ha/vụ.
2. Cây màu, cây công nghiệp vụ xuân :
* Tổng diện tích phấn đấu gieo trồng: 2.200 ha, trong đó:
- Cây ngô: 600 ha;
- Cây khoai lang: 150 ha;
- Cây lạc: 250 ha;
- Dưa quả các loại: 150 ha;
- Đậu đỗ các loại : 200 ha;
- Các loại rau màu khác: 850 ha.
Tăng cường tìm kiếm thị trường, mở rộng diện tích trồng giống lạc mới TB25 theo phương pháp trồng có che phủ nilon, bón phân chuyên dùng.
3. Cây vụ hè:
Diện tích phấn đấu 1.300 ha trở lên, trong đó cây màu hè xen giữa 2 vụ lúa từ 450 - 500 ha, cây đậu tương hè thu để chủ động làm giống cây vụ đông 650 ha.
IV. BIỆN PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN SẢN XUẤT LÚA, MÀU VỤ XUÂN NĂM 2011.
1. Cơ cấu giống lúa:
- Nhóm giống lúa có năng suất cao: 65 - 70% diện tích:
+ Chủ yếu cấy giống TBR1, BC15 (bỏ không cấy các giống: Lưỡng Quảng, Khang Dân, Q5).
+ Giống BC15 thuộc nhóm giống lúa xuân ngắn ngày, có tiềm năng năng suất cao, chất lượng gạo ngon, chịu thâm canh, đẻ nhánh khỏe, khả năng tái sinh cao nhưng nhiễm bệnh đạo ôn. Đặc biệt ở những năm thời tiết diễn biến bất thuận và không thực hiện nghiêm túc các biện pháp kỹ thuật canh tác thì bệnh đọa ôn phát sinh gây hại rất nặng. Vì vậy phải thực hiện đồng bộ các biện pháp kỹ thuật như: Chỉ cấy ở những chân đất có địa hình từ vàn trở lên, tuyệt đối không cấy ở chân thấp trũng, chỉ bón các loại phân tổng hợp N-P-K chuyên dùng theo hướng dẫn của nhà máy và bón tăng từ 3 - 4 kg Kali/sào, không bón phân đơn, cấy mật độ 32 - 33 khóm/m2, 2 - 3 dảnh/khóm, phải chủ động phun phòng bệnh đạo ôn 2 lần, lần 1 ngay từ giai đoạn lúa đang đẻ nhánh, lần 2 sau lần 1 từ 7 - 10 ngày.
- Nhóm giống lúa có chất lượng gạo ngon làm hàng hoá: 50% diện tích trở lên
+ Chủ yếu cấy các giống: Bắc Thơm số 7, Hương Thơm số 1, BC15, nếp N97, N87.
- Xây dựng mô hình cấy 2 giống lúa mới TBR45, QR1. Các xã, thị trấn phải xây dựng kế hoạch cấy gọn vùng. Đây là những giống ngắn ngày năng suất cao chất lượng gạo ngon để luôn chủ động có giống mới bổ sung vào cơ cấu những năm sau.
Giống TBR45 cấy ở chân đất thâm canh, giống QR1 có thời gian sinh trưởng ngắn hơn giống Bắc thơm số 7, nhiễm nhẹ với bệnh đạo ôn, rất phù hợp để thực hiện phương thức gieo thẳng, gieo vãi; những diện tích trồng cây vụ hè xen giữa 2 vụ lúa.
- Xây dựng mô hình khảo nghiệm 2 giống lúa mới:
+ DT45 là giống lúa thuần, năng suất cao, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt.
+ QR2 là giống có thời gian sinh trưởng ngắn ngày, chất lượng gạo ngon, khả năng nhiễm đạo ôn nhẹ, chủ động thực hiện các công thức luân canh.
- Phải tích cực tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới như: Mở rộng diện tích gieo vãi, gieo thẳng bằng công cụ sạ hàng theo phương pháp hàng rộng, hàng hẹp đạt 20 - 25% so với tổng diện tích cấy lúa xuân, thực hiện đồng bộ các biện pháp kỹ thuật thâm canh.
- Toàn bộ diện tích cấy lúa xuân phải được gieo cấy bằng các giống nguyên chủng, giống xác nhận và được xử lý thuốc trước khi ngâm gieo để hạn chế sâu bệnh phát sinh gây hại, năng suất đạt cao hơn.
2. Thời vụ và phương thức gieo cấy:
Chỉ đạo thực hiện nghiêm túc lịch thời vụ gieo cấy của huyện. Đặc biệt phải phân rõ các trà, công thức luân canh, thời vụ, phương thức gieo mạ.
Thời điểm lúa xuân trỗ bông phơi màu đạt được năng suất cao nhất từ 10 - 20/5 (tập trung từ 10 - 15/5); Để đạt yêu cầu trên, thời vụ và phương thức gieo cấy lúa xuân năm 2011 thực hiện cụ thể như sau:
- Toàn bộ diện tích mạ phải gieo theo phương thức mạ non nền đất cứng, mạ dược khum có che phủ nilon để chủ động chống rét cho mạ.
a. Thời vụ và phương thức gieo mạ:
Khung thời vụ gieo mạ từ ngày 29/01 đến 10/02/2011 dương lịch (từ 26 tháng chạp năm Canh Dần - 08 tháng giêng năm Tân Mão). Các địa phương tùy chân đất, phương thức gieo mạ, giống lúa, công thức luân canh mà bố trí thời vụ gieo đầu hay cuối lịch cho thích hợp, đảm bảo an toàn thời điểm lúa trỗ bông.
- Vùng đất thực hiện công thức: lúa xuân ngắn ngày - lúa mùa sớm - cây vụ đông ưa ấm, chiếm từ 65 - 70% so với tổng diện tích cấy lúa xuân, để lúa trỗ xung quanh trục 10/5:
+ Gieo mạ non trên nền đất cứng có che phủ nilon từ 29/01 - 06/02/2011 dương lịch (từ 26/chạp năm Canh Dần - 04/giêng năm Tân Mão), cấy khi mạ có từ 3 lá trở lên.
+ Mở rộng phương thức gieo mạ non nền dược khum cắm vòm che phủ nilon, gieo tập trung vào ngày 24 - 25/01/2011 (tức ngày 21 - 22 tháng chạp năm Canh Dần). Tuổi mạ từ 20 - 22 ngày, cấy khi mạ có từ 4 - 4,5 lá.
- Vùng đất thực hiện công thức luân canh: lúa xuân - lúa mùa còn lại - cây vụ đông ưa lạnh hoặc để ải, để lúa trỗ xung quanh trục 15/5.
+ Gieo mạ non nền cứng có che phủ nilon, thời vụ gieo từ 06 - 08/02/2011 (04 - 06/giêng năm Tân Mão).
+ Gieo theo phương thức mạ dược khum nền ruộng từ 28 - 30/01 dương lịch (25 - 27/chạp năm Canh Dần), các giống có thời gian sinh trưởng dài ngày hơn gieo đầu lịch, vùng đất thâm canh gieo cuối lịch.
Chú ý: Với giống lúa BC15, tập trung gieo ở đầu lịch của các vùng đất thực hiện công thức luân canh.
- Riêng vùng đất quy hoạch cấy lúa xuân, sau trồng cây màu hè xen giữa 2 vụ lúa: Các địa phương cần chỉ đạo xây dựng kế hoạch, quy hoạch chi tiết đến từng thôn làng, cánh đồng đặc biệt cụ thể về lịch thời vụ gieo mạ xuân, tránh tình trạng gây hiệu ứng lan truyền, tư tưởng gieo sớm. Vùng này bố trí để lúa xuân trỗ bông từ 20 - 25/4, thu hoạch tuần 3 tháng 5, sử dụng các giống ngắn ngày: Hương thơm số 1, Bắc thơm số 7, N87, N97, T10, QR1.
Gieo mạ dược khum có che phủ nilon, gieo từ 10 - 15/01/2011 (7 - 12/chạp năm Canh Dần). UBND huyện có đề án cụ thể riêng.
+ Đối với diện tích lúa thực hiện phương thức gieo thẳng bằng công cụ sạ hàng, gieo vãi:
Thời vụ gieo từ 10 - 15/02/2011 (8 - 13 tháng giêng năm Tân Mão), dùng các giống: BC15, TBR1, Hương thơm, Nếp N87, N97, Bắc thơm số 7.
b. Thời vụ cấy:
Các giống lúa ở vụ xuân 2011 chủ yếu bắt đầu cấy từ ngày 12/02/2011 tức ngày 10 tháng giêng năm Tân Mão, phấn đấu cấy kết thúc trước ngày 25/2/2011; cấy khi mạ có đủ số lá, cấy 2 - 3 dảnh/khóm; các giống lúa thuần cấy từ 36 - 38 khóm/m2. Giống BC-15: Cấy mật độ từ 32 - 33 khóm/m2, cấy 2 - 3 dảnh/khóm.
Chỉ cấy trong những ngày nhiệt độ bình quân/ngày trên 15oC.
3. Làm đất: Tập trung cao sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt để cày lật đất sớm xong trước ngày 10/12/2010, phấn đấu 100% diện tích đất được ải kể cả diện tích đất trồng cây vụ đông, tăng độ tơi xốp, hạn chế cỏ dại và sâu bệnh gây hại đặc biệt là bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá, lùn sọc đen, không còn diện tích không cày chỉ bơm nước vào lồng là cấy (gọi là để ải âm).
4. Phân bón: Tăng cường tuyên truyền, khuyến cáo cho nông dân chỉ sử dụng phân tổng hợp N-P-K và các loại phân bón chuyên dùng của những nhà máy có uy tín (Nhà máy phân Văn Điển, Ninh Bình, Lâm Thao Vĩnh Phúc), phân bón Đầu trâu, Con Cò, Việt Nhật, phân vi sinh đa chủng đa chức năng Azotobacterin, thực hiện quy trình kỹ thuật bón như đã khuyến cáo của nhà sản xuất ghi trên bao bì, không bón các loại phân đơn: "Đối với chân đất chua trũng cần bón thêm từ 4 - 6 kg SUPE lân Lâm thao/sào, toàn bộ diện tích lúa xuân bón tăng thêm từ 2 - 3 kg Kali/sào ở giai đoạn lúa đẻ nhánh, để đảm bảo cân đối N-P-K". Tập trung bón lót đủ số lượng, bón lót sâu, bón thúc sớm, bón nặng đầu, nhẹ cuối, không bón muộn, lai nhai, để hạn chế sâu bệnh gây hại.
5. Biện pháp thuỷ lợi: Có kế hoạch thuỷ lợi đông xuân 2010 - 2011 riêng. Trong đó cần tập trung làm tốt một số nội dung sau:
- Yêu cầu UBND xã, thị trấn cần chủ động xây dựng kế hoạch, thực hiện chiến dịch thuỷ lợi đông xuân.
- Tổ chức nạo vét các sông trục, đánh sa bồi các cửa cống, hệ thống mương dẫn. Đặc biệt tập trung cao sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện giải phóng dòng chảy ngay từ tháng 11/2010, tu sửa nạo vét kênh mương nội đồng, đắp bờ vùng, bờ thửa các công trình nâng cấp, xây mới các trạm bơm, cống, mương máng phải thi công khẩn trương, đảm bảo chất lượng, thời gian để chủ động tưới nước cho các loại cây vụ đông và lúa, màu vụ xuân, đổ ải làm đất gieo cấy.
- Phải thực hiện nghiêm sự chỉ đạo của huyện về lịch đổ ải, không địa phương nào được tự ý đổ ải trước lịch, đổ ải gọn vùng, không làm ảnh hưởng đến cây vụ đông, đối với vùng đất kìm hãm cần được thau chua, rửa mặn.
6. Biện pháp bảo vệ thực vật:
- Phát động và thực hiện tốt chiến dịch diệt chuột trong toàn huyện khi đổ ải bằng các biện pháp thủ công và dùng thuốc sinh học để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do chuột gây ra.
- Trạm bảo vệ thực vật của huyện làm tốt công tác điều tra, phát hiện, dự tính, dự báo chính xác, kịp thời các đối tượng sâu bệnh, thống nhất với phòng Nông Nghiệp & PTNT tham mưu cho Huyện uỷ, UBND huyện phát động chiến dịch phòng trừ kịp thời, hướng dẫn nông dân thực hiện đúng kỹ thuật tránh dùng thuốc tràn lan, gây ô nhiễm môi trường, lãng phí.
- Trạm dịch vụ vật tư BVTV của huyện, các HTX dịch vụ nông nghiệp cần chủ động kế hoạch cung ứng đầy đủ, kịp thời các loại thuốc phòng trừ sâu bệnh, đảm bảo chất lượng, số lượng, giá cả, thời gian và chỉ cung ứng các loại thuốc theo thông báo của phòng Nông nghiệp & PTNT và trạm bảo vệ thực vật theo từng chiến dịch, phòng trừ kịp thời các ổ sâu bệnh mới phát sinh không để lây lan ra diện rộng.
- UBND huyện thành lập Đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra các đơn vị, cá nhân kinh doanh thuốc BVTV, phân bón, giống lúa.
- UBND các xã, thị trấn làm tốt công tác quản lý nhà nước đối với các đơn vị cá nhân kinh doanh thuốc BVTV, phân bón, giống lúa trên địa bàn quản lý.
7. Công tác cung ứng giống lúa, rau màu, cây công nghiệp:
- Các HTX dịch vụ nông nghiệp cần chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất tổ chức tập huấn, tuyên truyền, vận động các hộ nông dân tiếp thu nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật, giống mới. Sớm đăng ký số lượng, chủng loại giống với Công ty CP Giống cây trồng Thái Bình để phục vụ đủ giống lúa, màu theo kế hoạch đề ra, đảm bảo đủ về số lượng, chất lượng, thời gian, giá cả.
8. Cây màu, cây công nghiệp.
- Chuyển những diện tích cấy lúa kém hiệu quả ở chân cao, thành phần cơ giới pha cát, không chủ động nước tưới sang trồng màu, cây công nghiệp đạt giá trị kinh tế cao hơn.
- Chỉ gieo trồng đủ diện tích đậu tương xuân để làm giống cho vụ hè thu. Mở rộng diện tích trồng các cây có giá trị kinh tế cao đang có thị trường tiêu thụ ổn định như: Cây bí đỏ 2 mũi tên, dưa chuột , dưa gang, ớt...
9. Tích cực tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm các loại cây trồng đặc biệt một số cây đang có thị trường tiêu thụ sản phẩm để mở rộng diện tích sản xuất; khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân và doanh nghiệp xây dựng chế biến tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
10. Cơ chế chính sách hỗ trợ:
- Có một số cơ chế chính sách để chủ động đối phó với tình hình diễn biến bất thường từ thực tế của sản xuất.
PHẦN THỨ BA
TỔ CHỨC - THỰC HIỆN
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu sản xuất vụ xuân, vụ hè năm 2011 của huyện. Yêu cầu các xã, thị trấn, các phòng, ban, ngành cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:
1. Từ chủ trương sản xuất vụ xuân năm 2011 của huyện các xã, thị trấn cần chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất gắn với việc chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, theo Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIV, bố trí thực hiện tốt công thức luân canh, xen canh, gối vụ, giải quyết mối quan hệ các vụ trong năm đạt hiệu quả kinh tế.
2. Cấp uỷ Đảng, chính quyền các xã, thị trấn phải đổi mới phong cách lãnh đạo, chỉ đạo, phân công rõ nhiệm vụ, trách nhiệm cho các đồng chí trong Đảng uỷ, sâu sát địa bàn được phân công, phát huy, nâng cao hiệu lực trong chỉ đạo, điều hành chuyển đổi cơ cấu giống lúa xuân, chấp hành nghiêm túc lịch thời vụ gieo cấy và các biện pháp kỹ thuật canh tác của huyện.
3. Đề nghị thường trực Huyện uỷ giao cho các đồng chí uỷ viên Ban thường vụ Huyện uỷ - phụ trách cụm, Huyện uỷ viên phụ trách xã, thị trấn chịu trách nhiệm duyệt kế hoạch sản xuất vụ xuân với các xã, thị trấn mình phụ trách.
4. Huyện thành lập Ban chỉ đạo và Tổ công tác của huyện, tăng cường đi chỉ đạo ở cơ sở. Các xã, thị trấn phải thành lập Ban chỉ đạo và Tổ công tác, chỉ đạo trực tiếp đến từng thôn làng.
5. Huy động, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị đặc biệt là vai trò mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể như: Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên, các cơ quan thông tin đại chúng như: Đài phát thanh của huyện, đài truyền thanh các xã, thị trấn phối hợp với phòng Nông nghiệp & PTNT đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động, hướng dẫn các hộ nông dân hiểu rõ chủ trương, biện pháp kỹ thuật sản xuất vụ xuân 2011 của huyện là vụ sản xuất chủ lực từ đó thực hiện tốt hơn.
- Kết quả sản xuất vụ xuân 2011 là một trong những chỉ tiêu quan trọng góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của huyện và là chỉ tiêu thi đua của các xã, thị trấn.
6. Các đơn vị phục vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của mình chủ động xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện tốt chủ trương, biện pháp sản xuất vụ xuân 2011 giành thắng lợi./.
Nơi nhận: - TT. Huyện uỷ; - TT. HĐND huyện; - Uỷ viên BCH Đảng bộ huyện; - LĐ. UBND huyện; - Uỷ viên UBND huyện; - Thủ trưởng phòng, ban, ngành liên quan; - Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch UBND,Chủ nhiệm HTX DVNN xã, thị trấn; - Lưu: VT, NN&PTNT. | TM. ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN KT. CHỦ TỊCH PHÓ CHỦ TỊCH (Đã ký) Nguyễn Văn Hạnh
|
Tải về máy